Ý nghĩa cổng tam quan trong văn hóa người Việt

Ý nghĩa cổng tam quan trong văn hóa người Việt

Ý nghĩa cổng tam quan trong văn hóa người Việt

Ý nghĩa cổng tam quan trong văn hóa người Việt

Từ xa xưa,cổng tam quan đã trở thành một hình ảnh quen thuộc trong tâm trí của người dân Việt Nam, nhất là đối với những người dân ở vùng quê đồng bằng Bắc Bộ và Miền Trung. Cổng tam quan được xây dựng ở rất nhiều nơi, từ cổng làng đến cổng đình, cổng chùa, thậm chí là cổng nhà thờ các dòng họ với nhiều chất liệu khác như cổng tam quan được làm bằng gỗ rồi phát triển lên xây dựng bằng gạch và đến ngày nay cổng tam quan được làm bằng nguyên liệu đá xanh nguyên khối  với  những kiểu dáng độc đáo và tinh tế.  Qua quá trình hình thành và phát triển Cổng Tam Quan đá có một ý nghĩa quan trọng tới đời sống tâm linh người  Việt và được diễn giải như sau:

  1. Theo quan điểm  triết học Phật giáo

Trong các ngôi chùa, mỗi thành phần kiến trúc cũng như tổng thể văn hóa cơ bản hàm chứa Triết học Phật giáo. Từ các tượng đến các loại hình kiến trúc văn hóa khác, mỗi vật thể đều mang một nội dung văn hóa Phật giáo, trong một ý tưởng lấy con người là trung tâm cho mọi triết thuyết cũng như nhận thức về vũ trụ. Cổng tam quan chùa Phật cũng không nằm ngoài phạm trù trên. Cũng có thể ban đầu, sự xuất hiện của cổng tam quan chỉ là trường hợp ngẫu nhiên cho sự thuận tiện đi lại, nhưng phái xuất từ ý nghĩa đạo giáo ( Tam quan mở đầu cho con đường đến với Phật môn, con đường đến giác ngộ, nên một nội hàm đạo giáo đã được thổi phồng vào các cấu trúc kiến trúc cho ngôi chùa nói chung và Tam quan nói riêng).

Ý nghĩa cổng tam quan trong văn hóa người Việt
Ý nghĩa cổng tam quan trong văn hóa người Việt

Tam quan còn âm đọc là Tam quán: Trong thời gian gần đây, các nhà nghiên cứu Việt Nam thống nhất cách lí giải Tam quan chính là Tam quán, đây là cách lí giải đã mô phạm lại học giả Trần Trọng Kim trong tác phẩm Phật lục. Theo học giả Trần Trọng Kim thì Tam quan nhưng viết thành Tam quán 三觀, vì chữ “Quán” 觀trong chữ Hán cũng đọc thành âm“Quan”. Từ Tam quán 三觀là một thuật ngữ Phật giáo mà theo cách lý giải của học giả Trần Trọng Kim thì Tam quán ứng với ba cửa chùa. Đấy là Trung quán ở giữa, còn Không và Giả quán ở hai bên. Về mặt triết học, theo Thiên thai tông, Tam quán chỉ Không quán, Giả quán và Trung quán. Không quán chính là quán các pháp Không vô tự thể; Giả quán là quán các pháp duyên sinh Giả tướng; Trung quán là quán các pháp phi Không cũng phi Giả, chính là cái lí thực tướng Trung đạo vừa Không vừa Giả. Người tu trì theo Tam quán có thể phá trừ hết Tam hoặc, chứng ngộ được Tam trí, thành tựu được Tam đức.

Nhưng không chỉ trong Thiên thai tông mà trong Hoa nghiêm tông, Luật tông cũng chuyên dụng thuật ngữ này. Tuy mỗi tông có cách dùng khác nhau, nhưng cơ bản đều là con đường cứu cánh từ sinh tử phiền não đến Bồ đề, Niết bàn đạo quả.

Tuy nhiên vấn đề chúng tôi nói đến là cửa chùa. Cửa chùa hoàn toàn không thuộc phạm trù Tam quán nói trên. Cũng như từ “quan” 觀(quán) không hề liên quan đến cửa chùa. Qua khảo sát hệ thống bia chí của người Việt Nam viết về việc dựng xây các chùa chiền qua quá trình lịch sử, đã cho thấy một diễn trình phát triển của Tam quan.

Tam quan: Các thư tịch Hán Nôm viết về kiến trúc chùa chiền có niên đại trước Lý – Trần đến nay không còn, chỉ còn lại vài tấm Bia Đá phần nào cho chúng ta mường tượng nên quy mô kiến trúc Phật giáo thời đại đã qua. Trong quá trình khảo sát chúng tôi cơ bản căn cứ trên hệ thống bia chí để nghiên cứu lịch trình phát triển của Tam quan. Thời Lý – Trần, bia chí không còn nhiều nhưng một số tấm bia còn lại cũng phần nào làm sáng tỏ được ít nhiều về không gian kiến trúc chùa Việt. Bia Cổ Việt thôn Diên Phúc tự bi minh ghi chép năm Đại Khánh 4 (1113); bia Thiệu Long tự bi dựng năm Kiến Trung 1 (1226), đều ghi rất rõ Tam quan 三關(ba cửa) là thành phần trong tổng thể kiến trúc ngôi chùa. Thông qua việc tìm hiểu về quá trình lịch sử, cho thấy hệ thống bi chí được khảo sát qua các triều đại Mạc, Lê Trung hưng, Nguyễn về sau đều dùng từ Tam quan 三關để chỉ cửa chùa Phật giáo.

Từ những minh chứng trên cho thấy cửa chùa đã dùng từ Tam quan 三關đúng tự dạng và nghĩa chữ Hán, chứ không phải là Tam quan 三觀(Tam quán)như học giả Trần Trọng Kim đã viết, cũng như sự nhầm lẫn của những người nghiên cứu kiến trúc chùa Việt xưa nay đã khảo tả.

Ý nghĩa cổng tam quan trong văn hóa người Việt
Ý nghĩa cổng tam quan trong văn hóa người Việt

Trong các công trình nghiên cứu kiến trúc Phật giáo Trung Quốc, cũng như viết về kiến trúc của chùa Việt, các nhà nghiên cứu đều đồng nhất Tam quan với Sơn môn. Nguyên do từ Sơn môn nghĩa đen là “cửa núi”, chùa viện tọa lạc trên núi và từ này đã được dùng để chỉ cửa ngoài của chùa viện (tại Trung Quốc ngày nay từ này vẫn dùng chỉ cửa chùa. Trung Quốc trong lịch trình phát triển kiến trúc Phật giáo từ Tam quan không được sử dụng phổ biến mà chỉ ở Việt Nam mới có. Về sau, Sơn môn mang thêm một nghĩa là chỉ về ngôi chùa, diễn tiến ý nghĩa cho cách nói về một Tổ đình Phật giáo, chỉ về một tông môn.

Sơn môn theo Phật giáo đại từ điển định nghĩa:

山門寺院之外門也…. 凡寺院必有山林故指寺員之門曰山門又寺院全體亦曰山門“Sơn môn tự viện chi ngoại môn dã… Phàm tự viện tất hữu sơn lâm cố chỉ tự viên chi môn viết sơn môn hựu tự viện toàn thể diệc viết Sơn môn”. Sơn môn chính là cửa ngoài của chùa viện vậy…. Phàm là chùa viện ắt có núi rừng, cho nên cửa của chùa viện thì gọi là Sơn môn. Lại toàn thể chùa viện cũng gọi là Sơn môn.

Nhưng Sơn môn tự viện thường ba cửa, cũng chính là nghĩa của từ Tam môn. Theo Phật học đại từ điển, định nghĩa cụm từ Tam môn (ba cửa) như sau:

三門 :山門之形制如闕開三門故亦曰三門又只有一門亦呼為三門蓋標幟空無相無作三解脫門之稱也釋氏要覽上曰凡寺院有開三門“Tam môn: sơn môn chi hình chế như khuyết, khai tam môn cố diệc viết tam môn, hựu chỉ hữu nhất môn diệc hô vi tam môn, cái tiêu xí Không, Vô tướng, Vô tác, Tam giải thoát môn chi xưng dã. Thích thị yếu lãmthượng viết: Phàm tự viện hữu khai tam môn” (Tam môn: cửa chùa có hình thế như cửa khuyết, cho nên cũng gọi là Tam môn, lại cũng có một cửa cũng gọi là Tam môn, để nêu rõ Không, Vô tướng, Vô tác – là cách gọi của Tam giải thoát môn. “Thích thị yếu lãm” quyển thượng viết: chùa viện mở ra cửa Tam môn).

Như vậy các chùa Việt gọi cửa chùa là Tam quan thì các tự viện của Trung Quốc gọi cửa chùa là Sơn môn, gọi là Tam môn, cách gọi tuy khác nhau nhưng bản chất là một. Quy chiếu triết học Phật giáo vào Tam quan cũng chính là cùng hệ quy chiếu đối với Sơn môn. Như trên đã trích dẫn, ý nghĩa Triết học Phật giáo của cổng chùa theo Phật học đại từ điển lí giải “là cách gọi của Tam giải thoát môn”. Vậy Tam giải thoát môn là gì? Tam giải thoát môn chính là ba cửa giải thoát cho chúng sinh thoát khỏi phiền não, tiến nhập vào chốn thanh tịnh, an nhiên tự tại, chốn bỉ ngạn để đạt đạo quả Niết bàn. Ba cửa đấy là Không giải thoát môn, Vô nguyện giải thoát môn, Vô tướng giải thoát môn. Không giải thoát môn là quán sát tất cả các pháp do nhân duyên mà sinh thành, tự tính vốn là không, không làm, không nhận, tất cả mọi thứ như hư huyễn không có thật, thông đạt như thế, thì mới có thể ngộ nhập vào cõi Niết Bàn. Vô nguyện giải thoát môn còn gọi là Vô tác giải thoát môn, chính là tất cả các pháp sinh tử, nguyện xa rời ý niệm tạo tác, để ngộ nhập vào Niết bàn diệu quả; Vô tướng giải thoát môn là quán sát tất cả pháp thế gian đều là giả hợp của hình tướng, hiểu được tứ đại ngũ uẩn giai không, rời các nhân ngã chấp tướng mà ngộ nhập vào cõi Tịch tĩnh của Niết bàn.

Tâm giải thoát môn còn gọi là Tâm không môn, lại còn gọi là Không môn, vì thế chùa chiền vẫn thường được gọi là Không môn như một cách gọi đại xưng.

Ý nghĩa cổng tam quan trong văn hóa người Việt
Ý nghĩa cổng tam quan trong văn hóa người Việt

 2.Theo quan điểm  tổng thể kiến trúc phật giáo

Kiến trúc Phật giáo có một hệ thống thống nhất theo sự phát triển đạo Phật đến các nước khu vực Nam Á. Điều này đến ngày nay chúng ta còn gặp trong kiến trúc tháp Sanchi và Bharhut của Ấn Độ, tháp ở Malaixia, Inđônêxia v.v… có niên đại trước Công nguyên. Tại Trung Quốc khi Phật giáo mới du nhập, kiến trúc chùa chịu ảnh hưởng của Ấn Độ rất rõ, điều này còn thấy rất nhiều trong bích họa Đôn Hoàng cũng như trong các di tích. Ngoài những gì bích họa Đôn Hoàng vẽ lại, những ngôi chùa cổ của Trung Quốc còn tới ngày nay cho thấy quy mô rất lớn, kiểu thức lầu quán thường phổ biến, có thể đây là kiểu thức kiến trúc có sau thời du nhập đạo Phật. Sự diễn tiến tạo nên cổng chùa có mô thức lầu gác và nhiều cửa vào chịu ảnh hưởng kiến trúc Trung Quốc là điều khá rõ. Lịch sử kiến trúc cho biết thời gian hoàn thiện kiến trúc cổng chùa – Tam quan là vào thời Ngũ Đại.

Ý nghĩa cổng tam quan trong văn hóa người Việt
Ý nghĩa cổng tam quan trong văn hóa người Việt

Tuy nhiên kiến trúc cổng chùa Trung Quốc gọi là Sơn môn. Theo Trung Quốc kiến trúc nghệ thuật sử thì vào thời Đường cửa chùa ở Trung Quốc đã hình thành nên kiểu thức kiến trúc Sơn môn. Các tự viện Phật giáo Trung Quốc ngày nay dùng từ Sơn môn để chỉ cho toàn bộ ngôi chùa nói chung cũng như tông phái chùa đó, điều này ở Việt Nam tiếp thu rất rõ.

Kiến trúc chùa Việt Nam thường theo trục hướng Nam Bắc, mở đầu cho hướng đó là Tam quan án ngự. Từ Tam quan vào bên trong là toàn thể ngôi chùa bao gồm Lầu chuông, Gác trống phía trước, Hành lang giải vũ hai bên, tiếp vào cùng Thiêu hương, Tiền đường, Thượng điện v.v…

Ý nghĩa cổng tam quan trong văn hóa người Việt
Ý nghĩa cổng tam quan trong văn hóa người Việt

Cổng tam quan đá thông thường có hai tầng, tầng dưới có ba cửa, ở giữa là cửa chính, hai bên cửa nhỏ hơn và kích thước hai cửa này bằng nhau. Tuy nhiên cũng nhiều chùa xây Cổng Đá Tam Quan có khi hơn 4 đến 5 tầng, mở ra 4 đến 5 cửa và thường tùy thuộc vào tổng thể kiến trúc của ngôi chùa cũng như ý tưởng của người chủ hưng công khi cho xây dựng. Tầng trên của Tam quan chùa Việt có khi kiêm luôn chức năng lầu chuông, khánh và treo chuông lớn. Mỗi ngôi chùa có kiểu dáng Tam quan khác nhau, nhưng cũng không loại trừ khả năng dị đồng trong phong cách kiến trúc.

Cơ sở đá mỹ nghệ ninh vân chúng tôi chuyên thi công lắp đặt :Khu lăng mộ đá, lăng mộ đá đẹp, mộ đá đẹp, cuốn thư đá đẹp, cổng tam quan đá….Trên toàn quốc, với nhiều mẫu sản phẩm đá mỹ nghệ đẹp,kích thước hợp phong thủy lỗ ban, với giá thành tốt nhất, chất lượng sản phẩm luôn đặt lên hàng đầu của cơ sở chúng tôi.

Qúy khách hàng liên hệ với chúng tôi để được tư vấn tốt nhất về sản phẩm theo địa chỉ sau:

Công ty đá mỹ nghệ ninh vân

Địa chỉ : Ninh Vân – Hoa Lưu – Ninh Bình

Điện Thoại : 0916.958.095

Email : langdamyngheninhbinh@gmail.com

Website : langmodep.net

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

ZALO - ĐÁ MỸ NGHỆ
ZALO - ĐÁ MỸ NGHỆ